Thế nào là hành vi bạo lực gia đình theo quy định pháp luật?

Câu hỏi: Sau khi bà H, mẹ chị A bị tai biến liệt nửa người, chị A nghỉ làm công nhân may để ở nhà nội trợ chăm sóc mẹ. Hàng ngày mua sắm thứ gì, tiền thuốc cho mẹ hết bao nhiêu, chị phải ghi sổ chi tiết cho chồng biết. Chị A nghĩ làm vậy cũng tốt, chị có thể theo dõi điều tiết, đồng thời có thể công khai với chồng. Song vấn đề phát sinh khi mỗi lần anh chị mâu thuẫn là anh Q không đưa tiền cho chị khiến chị lâm vào tình trạng khó khăn, mẹ chị không có tiền mua thuốc chữa bệnh, buộc chị phải xin lỗi, chịu nhận phần sai mặc dù có thể lỗi hoàn toàn do anh Q. Hỏi hành vi của anh Q có phải là hành vi bạo lực gia đình không?

Trả lời: Cảm ơn bạn đã tin tưởng gửi câu hỏi đến Tổng đài tư vấn luật hôn nhân và gia đình 19006261. Luật sưu xin tư vấn về trường hợp này như sau:

Căn cứ pháp lý:

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 2 Luật Phòng chống bạo lực gia đình năm 2007, các hành vi bạo lực gia đình được chia thành bốn nhóm sau: (1) nhóm hành vi bạo lực về thể chất; (2) nhóm hành vi bạo lực về tinh thần; (3) nhóm hành vi bạo lực về kinh tế; và (4) nhóm hành vi bạo lực về tình dục. Trong nhóm hành vi bạo lực về kinh tế gồm các hành vi chiếm đoạt, huỷ hoại, đập phá, cố ý làm hư hỏng tài sản riêng của thành viên khác trong gia đình hoặc tài sản chung của các thành viên gia đình, cưỡng ép thành viên gia đình lao động quá sức, đóng góp tài chính quá khả năng của họ hoặc kiểm soát thu nhập của thành viên gia đình nhằm tạo ra tình trạng phụ thuộc về tài chính.

Bên cạnh đó, theo quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập khi xác định tài sản chung của vợ chồng trong trường hợp ly hôn. Theo đó, công việc nội trợ chăm sóc gia đình của chị A được xem là lao động có thu nhập nên chị hoàn toàn có quyền đối với các tài sản chung[1] mà vợ chồng anh chị tạo dựng được trong thời kỳ hôn nhân. Do đó, việc anh Q biết tình trạng chị A phải phụ thuộc tài chính vào anh nên gây sức ép cho chị A mỗi khi vợ chồng anh chị mâu thuẫn có thể được coi là hành vi thuộc vào nhóm hành vi bạo lực kinh tế.

Tuy nhiên, trước khi nhờ đến cơ quan pháp luật giải quyết, chị A nên giúp anh Q nhận thức được hành vi của mình không đúng cả về mặt đạo đức, lẫn quy định pháp luật để thay đổi cách suy nghĩ, cách ứng xử về vấn đề này. Nếu anh Q cố tình không chịu hiểu và thay đổi hành vi gây bạo lực kinh tế đối với chị thì chị có thể nhờ đến cơ quan có thẩm quyền giải quyết.

Tùy vào tính chất, mức độ của hành vi vi phạm mà hành vi của anh Q sẽ bị xử lý theo quy định tại Điều 56 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP, cụ thể Điều này quy định xử phạt như sau:

– Phạt tiền từ 300.000 đồng đến 500.000 đồng đối với hành vi không cho thành viên gia đình sử dụng tài sản chung vào mục đích chính đáng.

– Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây: Chiếm đoạt tài sản riêng của thành viên gia đình; Ép buộc thành viên gia đình lao động quá sức hoặc làm công việc nặng nhọc, nguy hiểm, tiếp xúc với chất độc hại hoặc làm những công việc khác trái với quy định của pháp luật về lao động; Ép buộc thành viên gia đình đi ăn xin hoặc lang thang kiếm sống.

[1]Gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại Khoản 1 Điều 40 của Luật hôn nhân và gia đình; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

Trên đây là nội dung tư vấn của Asklaw về vấn đề của bạn. Mọi thắc mắc hoặc cần tư vấn thêm, bạn vui lòng liên hệ đến Tổng đài tư vấn luật 19006261 để được hỗ trợ, giải đáp kịp thời